Kiến thức quản trị

Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu – Tổng quan và các chức năng

Big data

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một trong những kiến thức có ứng dụng quan trọng và được sử dụng phổ biến trong hầu hết mọi lĩnh vực công nghệ, từ các công ty quảng cáo cho đến các công ty lập trình phần mềm như đều ứng dụng công nghệ này, tuy nhiên khá nhiều newbie mới học hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm thường nhầm lẫn nhất về các khái niệm, cũng như “bối rối” trong các thao tác kiểm soát, tạo, cập nhật hay duy trì các cơ sở dữ liệu (database) trên các hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS).
Vì vậy, bài viết này nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Các công việc cần phải làm khi quản trị hệ cơ sở dữ liệu. Và các chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

                           Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Khái niệm hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu (Database) là gì?

Cơ sở dữ liệu là một kho dữ liệu được tổ chức theo một nguyên tắc nào đó. Đó là một tập hợp các tập tin có liên quan với nhau, được thiết kế nhằm làm giảm thiểu sự dư thừa dữ liệu, đảm bảo tính tin cậy khi truy xuất dữ liệu. Các tập tin này chứa các thông tin biểu diễn các đối tượng trong một ứng dụng thế giới thực.
Cơ sở dữ liệu lưu giữ thông tin của một trường đại học như : khoa, giảng viên, sinh viên, khóa học,…
Thông thường, một cơ sở dữ liệu sẽ bao trùm tất cả các thông tin của một ứng dụng, không nên đặt hai cơ sở dữ liệu vào một ứng dụng.
>>> Chi tiết về cơ sở dữ liệu

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là gì?

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS – Database Management System) là một hệ thống gồm một CSDL và các thao tác trên CSDL. Đó là hệ thống chương trình, công cụ cho phép quản lý và tương tác với cơ sở dữ liệu. Trên đó người dùng có thể định nghĩa, thao tác, và xử lí dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu để xuất ra những thông tin có nghĩa.
Ví dụ : một DBMS có thể quản trị cơ sở dữ liệu của một trường đại học cũng như những cơ sở dữ liệu có ý nghĩa khác như : cơ sở dữ liệu phục vụ tổng thu nhập quốc gia, một cơ sở dữ liệu liên hợp quốc về dữ liệu địa lý thế giới,v..v…
Xem thêm về các yêu cầu hệ quản trị cơ sỏ dữ liệu
>>> Tại đây

Hệ cơ sở dữ liệu là gì?

Hệ cơ sở dữ liệu (HCSDL/ DBS: DataBase System) là một phần mềm cho phép xây dựng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

Các vấn đề cần xử lý của hệ cơ sở dữ liệu

Một số điểm bất lợi chính của việc lưu giữ thông tin có tổ chức trong hệ thống xử lý file thông thường mà hệ QTCSDL cần lưu ý:

Dư thừa dữ liệu và tính không nhất quán (Data redundancy and inconsistency)

Do các file và các trình ứng dụng được tạo ra bởi các người lập trình khác nhau, nên các file có định dạng khác nhau, các chương trình được viết trong các ngôn ngữ lập trình khác nhau, cùng một thông tin có thể được lưu giữ trong các file khác nhau. Tính không thống nhất và dư thừa này sẽ làm tăng chi phí truy xuất và lưu trữ, hơn nũa, nó sẽ dẫn đến tính không nhất quán của dữ liệu: các bản sao của cùng một dữ liệu có thể không nhất quán .

Khó khăn trong việc truy xuất dữ liệu

Môi trường của hệ thống xử lý file thông thường không cung cấp các công cụ cho phép truy xuất thông tin một cách hiệu quả và thuận lợi.

Sự cô lập dữ liệu (Data isolation)

Các giá trị dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu phải thoả mãn một số các ràng buộc về tính nhất quán của dữ liệu ( ràng buộc nhất quán / consistency contraints ).

Trong hệ thống xử lý file thông thường, rất khó khăn trong việc thay đổi các chương trình để thoả mãn các yêu cầu thay đổi ràng buộc. Vấn đề trở nên khó khăn hơn khi các ràng buộc liên quan đến các hạng mục dữ liệu nằm trong các file khác nhau.

Các vấn đề về tính nguyên tử (Atomicity problems)

Tính nguyên tử của một hoạt động (giao dịch) là: hoặc nó được hoàn tất trọn vẹn hoặc không có gì cả . Điều này có nghĩa là một hoạt động (giao dịch) chỉ làm thay đổi các dữ liệu bền vững khi nó đã hoàn tất (kết thúc thành công) nếu không, giao dịch không để lại một dấu vết nào trên CSDL. Trong hệ thống xử lý file thông thường khó đảm bảo được tính chất này.

Tính bất thường trong truy xuất cạnh tranh

Một hệ thống cho phép nhiều người sử dụng cập nhật dữ liệu đồng thời, có thể dẫn đến kết quả là dữ liệu không nhất quán. Điều này đòi hỏi một sự giám sát. Hệ thống xử lý file thông thường không cung cấp chức năng này.

Vấn đề an toàn hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Security problems)

một người sử dụng hệ cơ sở dữ liệu không cần thiết và cũng không có quyền truy xuất tất cả các dữ liệu. Vấn đề này đòi hỏi hệ thống phải đảm bảo được tính phân quyền, chống truy xuất trái phép … Các bất lợi nêu trên đã gợi mở sự phát triển các DBMS.
Phần sau của giáo trình sẽ đề cập đến các quan niệm và các thuật toán được sử dụng để phát triển một hệ cơ sở dữ liệu nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên .

Các chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Định nghĩa dữ liệu

Tạo, sửa đổi và loại bỏ các định nghĩa xác định tổ chức dữ liệu.
Cung cấp cho người dùng một môi trường tạo lập cở dữ liệu chuẩn. Hệ quản trị csdl sẽ đóng vai trò cung cấp cho người dùng một ngôn ngữ cụ thể giúp định nghĩa dữ liệu để mô tả, khai báo kiểu dữ liệu và các cấu trúc dữ liệu.

Chức năng cập nhật và truy xuất

Chèn, thay đổi và xóa dữ liệu thực tế.
Cung cấp những phương thức cập nhật và khai thác dữ liệu hiệu quả: Một hệ quản trị csdl sẽ cung cấp cho người dùng một ngôn ngữ để thao tác dữ liệu. Nhằm diễn tả các yêu cầu, các thao tác cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu một cách triệt để. Thao tác dữ liệu bao gồm có: Cập nhật ( thêm, xóa, sửa dữ liệu) và khai thác (tìm kiếm, truy xuất dữ liệu).

Chức năng quản trị:

Cung cấp một công cụ kiếm soát, điều khiển những truy cập vào cơ sở dữ liệu nhằm đảm bảo thực hiện một số yêu cầu cơ bản của hệ cơ sở dữ liệu. Những công việc bao gồm: Đảm bảo an ninh, phát hiện và ngăn chặn những hành động truy cập hợp pháp. Duy trì tính nhất quán của dữ liệu. Tổ chức và điều khiển các hoạt động truy cập. Khôi phục cơ sở dữ liệu khi xảy ra sự cố liên quan đến phần cứng hay phần mềm. Quản lý chi tiết các mô tả dữ liệu.

Tổng quan các chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Các chức năng được cung cấp bởi một hệ quản trị CSDL có thể rất khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các hệ quản trị cơ sở dữ liệu đều có các chức năng cốt lõi là lưu trữ, truy xuất và cập nhật dữ liệu. Một hệ QTCSDL nhìn chung phải có đầy đủ các chức năng sau:
– Lưu trữ, truy xuất và cập nhật vào dữ liệu
– Hỗ trợ giao dịch và đồng thời
– Cho phép nhiều người dùng truy xuất đồng thời.
– Hỗ trợ xem và xử lý dữ liệu lưu trữ.
– Các cơ sở phục hồi CSDL bằng cách sao lưu và phục hồi.
– Thực thi các ràng buộc, để đảm bảo rằng dữ liệu trong CSDL tuân thủ các quy tắc nhất định.
– Hỗ trợ truy cập từ các địa điểm từ xa
– Cung cấp một cơ chế chỉ mục hiệu quả để truy cập nhanh các dữ liệu lựa chọn.
>>> Nguồn ( https://vi.wikipedia.org/wiki/Edgar_F._Codd )

                                                                     Hà Nội, ngày 9 tháng 1 năm 2020
                                                                     Nguyễn Đức – Wecommit

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of

Địa chỉ: Tầng 6, tòa nhà Việt Á, Số 9 Phố Duy Tân, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội